Một số chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2026
1. Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 30/11/2024 tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, trừ trường hợp quy định tại Điều 139, khoản 1 và khoản 2 Điều 162 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2028.
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội: Mức hình phạt cao nhất không quá 15 năm tù, hoặc không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định. Trường hợp phạm một trong các tội: (1) Tội giết người; (2) Tội hiếp dâm; (3) Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; (4) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; (5) Tội sản xuất trái phép chất ma túy thì mức hình phạt cao nhất không quá 18 năm tù hoặc không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội: Mức hình phạt cao nhất không quá 09 năm tù hoặc không quá hai phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định. Trường hợp phạm một trong các tội: (1) Tội giết người; (2) Tội hiếp dâm; (3) Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; (4) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; (5) Tội sản xuất trái phép chất ma túy thì mức hình phạt cao nhất không quá 12 năm tù hoặc không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
Luật cũng quy định việc rút ngắn thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với vụ án có người chưa thành niên là người bị buộc tội không quá một phần hai thời hạn tương ứng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát, Tòa án ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng thì thời hạn này được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bên cạnh đó, Luật Tư pháp người chưa thành niên còn có các quy định về phòng xử án thân thiện, thủ tục xét xử thân thiện; theo đó: Phiên tòa phải được tổ chức xét xử thân thiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa mặc trang phục hành chính của Tòa án; Kiểm sát viên mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục Kiểm sát nhân dân. Khi xét xử không còng tay hoặc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác, trừ trường hợp người chưa thành niên có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên tòa hoặc hành động tiêu cực khác.
2. Giảm 70% tiền chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất ở
Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực từ 01/01/2026. Theo đó, tại điểm c khoản 2 Điều 10 quy định khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau đây:
Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01/7/2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất).
3. Tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Ngày 10/11/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 293/2025/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, bao gồm: Doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận.
Theo đó, mức lương tối thiểu tháng và giờ của bốn vùng được điều chỉnh tăng so với Nghị định số 74/2024/NĐ-CP như sau:
Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng và 25.500 đồng/giờ (tăng 350.000 đồng/tháng so với mức cũ).
Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng và 22.700 đồng/giờ (tăng 320.000 đồng/tháng so với mức cũ).
Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng và 20.000 đồng/giờ (tăng 280.000 đồng/tháng so với mức cũ).
Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng và 17.800 đồng/giờ (tăng 250.000 đồng/tháng so với mức cũ).
4. Mức giảm trừ cho người nộp thuế tăng thêm 4,5 triệu đồng
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 và Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ ngày 01/01/2026, mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm); mức giảm trừ cho người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng. Các mức này áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Bên cạnh đó, Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2025 cũng mở rộng các khoản được giảm trừ, bao gồm các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc. Các khoản chi này phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về hóa đơn, chứng từ theo quy định và không được chi trả từ các nguồn khác.
5. Doanh nghiệp phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng
Ngày 26/6/2025 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Theo đó, Điều 25 quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động quy định: Khi không tuyển dụng hoặc khi chấm dứt hợp đồng lao động thì phải xóa, hủy thông tin đã cung cấp của người dự tuyển, dữ liệu cá nhân của người lao động, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua, bán dữ liệu cá nhân là 10 lần khoản thu có được từ hành vi vi phạm; trường hợp không có khoản thu từ hành vi vi phạm hoặc mức phạt tính theo khoản thu có được từ hành vi vi phạm thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 5 Điều 8 (3 tỷ đồng) thì áp dụng mức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 8 (3 tỷ đồng).
6. Lập hóa đơn sai thời điểm bị phạt đến 70 triệu đồng từ ngày 16/01/2026
Ngày 02/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 310/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn, có hiệu lực thi hành từ ngày 16/01/2026.
Theo đó, việc lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 50 số hóa đơn đến dưới 100 số hóa đơn phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng, từ 100 số hóa đơn trở lên phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng.
Trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm, các hành vi vi phạm còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong một vụ việc vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt về một hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm có khung tiền phạt tương ứng với số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định này.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định từ 50 số hóa đơn trở lên phạt tiền từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng. Trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi không lập hóa đơn, các hành vi vi phạm còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong một vụ việc vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt về một hành vi không lập hóa đơn có khung tiền phạt tương ứng với số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định này.
Với các hành vi không lập hóa đơn, lập hóa đơn không đúng thời điểm vi phạm ít thì mức xử phạt nhẹ nhất là cảnh cáo.
7. Lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương
Theo đó Điều 23 Luật Nhà giáo năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 quy định: Lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp; phụ cấp ưu đãi nghề và phụ cấp khác theo tính chất công việc, theo vùng theo quy định của pháp luật;
Nhà giáo cấp học mầm non; nhà giáo công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nhà giáo dạy trường chuyên biệt; nhà giáo thực hiện giáo dục hòa nhập; nhà giáo ở một số ngành, nghề đặc thù được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp cao hơn so với nhà giáo làm việc trong điều kiện bình thường.
Tiền lương của nhà giáo trong cơ sở giáo dục ngoài công lập thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.
Nhà giáo công tác ở ngành, nghề có chế độ đặc thù thì được hưởng chế độ đặc thù theo quy định của pháp luật và chỉ được hưởng ở một mức cao nhất nếu chính sách đó trùng với chính sách dành cho nhà giáo.
Ngoài ra, Luật Nhà giáo cũng quy định nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non nếu có nguyện vọng thì có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường nhưng không quá 05 tuổi. Đối tượng có thể hưởng chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn bao gồm nhà giáo có chức danh giáo sư (không quá 10 tuổi), phó giáo sư (không quá 07 tuổi) hoặc có trình độ tiến sĩ (không quá 05 tuổi) và nhà giáo làm việc trong ngành, lĩnh vực chuyên sâu đặc thù.
8. Người có ảnh hưởng không được giới thiệu sản phẩm khi chưa sử dụng hoặc chưa hiểu rõ về sản phẩm
Ngày 16/6/62025, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2026. Theo đó, Luật đã có những quy định nhằm siết chặt hoạt động quảng cáo của người chuyển tải sản phẩm quảng cáo và người có ảnh hưởng.
Theo đó, bên cạnh quyền được người quảng cáo cung cấp thông tin trung thực, đầy đủ, chính xác về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo và các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo thì người chuyển tải sản phẩm quảng cáo có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các quy định khác của pháp luật về việc cung cấp thông tin liên quan đến tính năng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi thực hiện quảng cáo; thực hiện nghĩa vụ về thuế khi phát sinh doanh thu từ dịch vụ quảng cáo theo quy định của pháp luật về thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp nội dung quảng cáo không bảo đảm các yêu cầu theo quy định tại Điều 19 của Luật này…
Người có ảnh hưởng theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi chuyển tải sản phẩm quảng cáo có các nghĩa vụ của người chuyển tải sản phẩm quảng cáo quy định tại khoản 2 Điều 15a và các nghĩa vụ sau đây:
Xác minh về độ tin cậy của người quảng cáo; kiểm tra tài liệu liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quảng cáo;
Trường hợp chưa sử dụng hoặc chưa hiểu rõ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thì không được giới thiệu về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ;
Thông báo về việc quảng cáo ngay trước và trong khi thực hiện hoạt động quảng cáo.
T.H