TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH NINH BÌNH
Chủ nhật, 26/07/2026 |
"THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LÀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA MỖI CÔNG DÂN"

TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT

Thứ tư, 18/06/2025
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 0 điểm ( 0 đánh giá )

I. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ TRẺ EM

Câu 1. Khi sinh ra, em A (10 tuổi) đã có vết bớt to màu đen che gần nửa khuôn mặt. Cô H không muốn nhận A vào lớp cô chủ nhiệm và đề xuất  Ban Giám hiệu nhà trường chuyển em A sang lớp khác. Hành vi của cô H có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo khoản 8, Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016, “Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em” là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.

Hành vi của cô H với em A là hành vi kỳ thị với những đặc điểm riêng về ngoại hình của em A. Do vậy, theo quy định, hành vi của cô A là hành vi vi phạm Luật Trẻ em năm 2016.

Câu 2. Sau một tai nạn giao thông, em H (10 tuổi) rơi vào hoàn cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bà nội H năm nay đã 80 tuổi lại thường xuyên đau yếu nhưng thương cảnh cháu ruột sớm mồ côi nên đưa cháu về chăm sóc. Hàng xóm xung quanh khuyên bà cháu H nên đề xuất với chính quyền địa phương hỗ trợ. Vậy trường hợp của H có thuộc trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không? Nhà nước có chế độ chính sách gì đối với trường hợp này?

Trả lời:

Theo điểm a khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016 và khoản 3 Điều 3 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ sống với người thân thích là một trong đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Do vậy, trường hợp của cháu H thuộc trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Cháu H sẽ có quyền được hưởng một số chính sách hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, cụ thể: chính sách chăm sóc sức khỏe (Điều 18); chính sách trợ giúp xã hội (Điều 19); chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp (Điều 20); chính sách trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ bảo vệ trẻ em khác (Điều 21).

Câu 3. Cháu năm nay 15 tuổi, theo Luật Trẻ em 2016, cháu có thuộc đối tượng là trẻ em không, nếu là trẻ em, cháu sẽ được hưởng những quyền gì?

Trả lời:

Theo quy định Luật Trẻ em 2016, “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”, do cháu năm nay 15 tuổi nên cháu được công nhận là trẻ em. Các quyền của trẻ em được quy định từ Điều 12 đến Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016, bao gồm: Quyền sống; quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu; quyền vui chơi, giải trí; quyền giữ gìn, phát huy bản sắc; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền về tài sản; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được sống chung với cha, mẹ; quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục; quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động; quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc; quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt; quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy; quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang; quyền được bảo đảm an sinh xã hội; quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội; quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp; quyền của trẻ em khuyết tật; quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn. Ngoài ra với tư cách là một công dân, trẻ em có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân, việc thực hiện các quyền trong một số trường hợp cụ thể sẽ do Luật chuyên ngành quy định.

Câu 4. Em A (9 tuổi) được cô giáo và các bạn đưa vào bệnh viện cấp cứu vì có biểu hiện đau bụng dữ dội. Nhưng bác sĩ nói rằng, không thể khám và cấp cứu cho em A ngay được vì còn rất nhiều bệnh nhân đến trước, đang xếp hàng chờ khám và không có ưu tiên. Hành vi của bác sĩ có vi phạm quy định của Luật Trẻ em không?

Trả lời:

Theo Điều 14 Luật Trẻ em, trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Vì vậy, hành vi từ chối khám cấp cứu và không ưu tiên cho trẻ em trong trường hợp này của bác sĩ là vi phạm quy định trên trong Luật Trẻ em.

Câu 5. Bé M có năng khiếu đặc biệt và rất thích tham gia môn bơi lội, nhà trường động viên cha mẹ cháu tạo điều kiện cho cháu luyện tập để thi đấu thể thao cấp quận nhưng cha mẹ cháu kịch liệt phản đối tìm mọi cách ngăn cản cháu M tham gia luyện tập với lý do bơi chỉ cần biết là đủ, không cần phải giỏi. Biết được lý do, đại diện nhà trường đã đến khuyên cha mẹ M nên tạo điều kiện cho em phát triển năng khiếu cá nhân, đó cũng là quyền của trẻ em. Cụ thể đó là quyền gì?

Trả lời:

Theo Điều 16 Luật Trẻ em năm 2016: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Như vậy, phát triển năng khiếu cá nhân là quyền của trẻ em, vì vậy để tạo điều kiện cho M được phát triển tài năng, năng khiếu của mình, gia đình và nhà trường cần phối hợp chặt chẽ, tạo mọi điều kiện trên tinh thần tôn trọng ý kiến, sở thích của cá nhân M.

Câu 6. Dạo này, bố mẹ M thường xuyên tranh luận về việc học tập của M dù em luôn đứng trong nhóm học giỏi nhất lớp. Nguyên nhân do bố M muốn em tham gia học thêm đủ các ngày trong tuần để thi vào trường chuyên cấp 2 của tỉnh. Song mẹ M lại muốn dành thời gian để M tham gia các hoạt động khác nữa. Biết chuyện, ông nội của M đã khuyên can bố M nên dành cho em cả thời gian vui chơi, giải trí vì đây cũng là quyền của trẻ em. Vậy trẻ em có quyền vui chơi, giải trí hay không? Cụ thể là gì?

Trả lời:

Điều 17 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Đồng thời, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tại Điều Điều 69 về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ là thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

Do vậy, việc học thêm của M cần được bố trí hợp lý; bởi việc bắt buộc học thêm gây nên tình trạng vượt quá sức tiếp thu của người học và không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý là vi phạm các nguyên tắc dạy thêm, học thêm.

Câu 7. Lên lớp 3, N được bố mẹ dành cho một phòng ngủ riêng để nghỉ ngơi, học tập. Trong 1 lần dọn dẹp phòng của N, mẹ N phát hiện em có một cuốn sổ riêng được viết ở bìa là Sổ nhật ký. Mẹ tò mò muốn đọc xem em có suy nghĩ, tâm tư gì. Xong bố N biết chuyện đã can ngăn mẹ không được làm thế vì trẻ em có quyền bí mật đời sống riêng tư, bố mẹ cần tôn trọng quyền này của các con. Vậy quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân còn được quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:

- Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. 
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 

- Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.

- Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Do vậy, nếu mẹ M tự ý xem trộm nhật ký của con là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân. Mẹ M nên thường xuyên quan tâm, hỏi han động viên để em tự chia sẻ suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của mình.

Câu 8. Quyền được sống chung với cha, mẹ của trẻ em được pháp luật quy định như thế nào?

Điều 22 Luật Trẻ em năm 2016 quy định về quyền được sống chung với cha, mẹ của trẻ em như sau:

- Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

- Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Câu 9. Tôi được biết, vừa qua, một số trẻ em và cha mẹ đã được Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em tư vấn tâm lý, pháp luật, chính sách rất hiệu quả và thiết thực, qua đó đã nâng cao hiểu biết pháp luật, giúp trẻ em và cha mẹ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ. Vậy Tổng đài điện thoại quốc gia có nhiệm vụ, quyền hạn gì trong việc bảo vệ trẻ em?

Trả lời:

Theo Điều 22 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em, Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

- Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em qua điện thoại do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý.

- Tiếp nhận thông báo, tố giác từ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân qua điện thoại.

- Liên hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc có thẩm quyền; khai thác thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng, môi trường mạng về nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em để kiểm tra thông tin, thông báo, tố giác ban đầu.

- Chuyển, cung cấp thông tin, thông báo, tố giác hoặc giới thiệu trẻ em có nguy cơ hoặc bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em tới các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, chức năng bảo vệ trẻ em.

- Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cá nhân có thẩm quyền, chức năng bảo vệ trẻ em trong phạm vi toàn quốc để đáp ứng việc tiếp nhận, trao đổi, xác minh thông tin, thông báo, tố giác về trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi.

- Hỗ trợ người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã trong việc xây dựng, thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với từng trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; theo dõi, đánh giá việc xây dựng và thực hiện kế hoạch này.

- Tư vấn tâm lý, pháp luật, chính sách cho trẻ em, cha, mẹ, thành viên gia đình, người chăm sóc trẻ em.

- Lưu trữ, phân tích, tổng hợp thông tin để cung cấp, thông tin, thông báo, tố giác khi có yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đối với vụ việc xâm hại trẻ em và các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất cho cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và các cơ quan khác có thẩm quyền, trách nhiệm về bảo vệ trẻ em.

Số của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em là 111. Mọi người dân gọi điện đến Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em được miễn cước cuộc gọi và phí tư vấn.

Câu 10. Nghỉ hè, X (15 tuổi) muốn xin làm ở xưởng thủ công mỹ nghệ của chị Y để kiếm thêm thu nhập cho gia đình, đã nói với mẹ ý định của mình. Mẹ X đồng ý nhưng bà lại băn khoăn và sợ việc X có thể phải làm việc quá sức hoặc bị bố trí công việc không phù hợp. Vậy quyền được bảo vệ của trẻ em để không bị bóc lột sức lao động được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 26, Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Đồng thời, để bảo vệ trẻ em không bị bóc lột sức lao động, Bộ luật Lao động năm 2012 tại Chương XI đã có các quy định cụ thể về người lao động chưa thành niên, trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc sử dụng lao động trẻ em, độ tuổi lao động của trẻ em và các công việc của trẻ em.

Do vậy, mẹ X hoàn toàn có thể yên tâm khi X đi làm thêm. Trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm các quy định của pháp luật về lao động của trẻ em và liên quan đến trẻ em như thê, X và gia đình cần phải thương lượng với người sử dụng lao động để làm đúng pháp luật và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Câu 11. A năm nay 15 tuổi. Do bị bạn bè rủ rê, A tham gia đua xe và gây tai nạn chết người. Hiện nay, A đã bị khởi tố nhưng được cho tại ngoại. Sắp tới, A sẽ bị Tòa đưa ra xét xử nên mẹ A đang rất hoang mang và lo lắng không biết A có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng không? Nếu có A sẽ được bảo vệ  như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 30, Luật Trẻ em năm 2016, Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

Đồng thời cũng theo Điều 70 Luật này cũng quy định về các yêu cầu bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng: Bảo đảm trẻ em được đối xử công bằng, bình đẳng, tôn trọng, phù hợp với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em; Ưu tiên giải quyết nhanh chóng các vụ việc liên quan đến trẻ em để giảm thiểu tổn hại đến thể chất và tinh thần của trẻ em; Bảo đảm sự hỗ trợ của cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp khác đối với trẻ em trong suốt quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em; Người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, luật sư, trợ giúp viên pháp lý phải có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với trẻ em; sử dụng ngôn ngữ thân thiện, dễ hiểu với trẻ em; Bảo đảm quyền được bào chữa, trợ giúp pháp lý cho trẻ em; Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật và tái phạm của trẻ em thông qua việc kịp thời hỗ trợ, can thiệp để giải quyết các nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật, giúp trẻ em phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng; Bảo đảm kịp thời cung cấp các biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp an toàn, liên tục, đầy đủ, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh, độ tuổi, đặc Điểm tâm lý, sinh lý của từng trẻ em trên cơ sở xem xét và tôn trọng ý kiến, nguyện vọng, tình cảm và thái độ của trẻ em; Bảo đảm sự liên kết chặt chẽ, kịp thời giữa các cơ quan, tổ chức, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, gia đình, cơ sở giáo dục với các cơ quan tiến hành tố tụng, xử lý vi phạm hành chính; Ưu tiên áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với trẻ em vi phạm pháp luật; biện pháp cưỡng chế và hạn chế tự do chỉ được áp dụng sau khi các biện pháp ngăn chặn, giáo dục khác không phù hợp; Bảo đảm bí mật đời sống riêng tư của trẻ em; áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế trẻ em phải xuất hiện trước công chúng trong quá trình tố tụng.

Như vậy, mẹ A có thể hoàn toàn yên tâm vì A là trẻ em nên em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng. Qua đây cần lưu ý cho mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục bảo vệ trẻ em, không để khi sự việc xảy ra mới quan tâm khi đó sẽ rất phức tạp và phải bị Nhà nước xử lý trách nhiệm khi thực hiện hành vi vi phạm.

Câu 12. Ở địa phương nơi tôi sinh sống vẫn còn hiện tượng trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực gia đình. Tôi được biết hiện nay đã Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em hoạt động hiệu quả, thiết thực nên cũng muốn nhờ hỗ trợ, tư vấn. Vậy, Tổng đài hoạt động vào thời gian nào? Khi được Tổng đài tư vấn có phải trả phí viễn thông và phí tư vấn không?

Trả lời:

Theo Điều 23 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em hoạt động 24 giờ tất cả các ngày, được Nhà nước bảo đảm nguồn lực hoạt động. Tổng đài được sử dụng số điện thoại ngắn 03 số, không thu phí viễn thông và phí tư vấn đối với người gọi đến Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em. Để bảo đảm nguồn lực hoạt động, Tổng đài còn được tiếp nhận viện trợ, hỗ trợ tài chính, kỹ thuật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; được quảng bá số điện thoại và các dịch vụ của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em theo quy định của pháp luật. Số điện thoại của Tổng đài là 111.

Câu 13. T sinh ra trong một gia đình nghèo. Bố mẹ T phải chắt chiu từng đồng cho T đi học. Do ham chơi, T đã nhiều lần bỏ học dẫn đến kết quả học tập ngày càng kém. Có lần bị bố mắng, T giận dỗi mắng trả rồi vùng vằng bỏ đi cả đêm không về nhà. T đã vi phạm những bổn phận gì của trẻ em đối với cha mẹ và gia đình?

Trả lời:

Theo Điều 37, Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em có bổn phận kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ; Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

II. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

 

Câu 1. Chị Lê Thị Hồng Sáng có hộ khẩu thường trú tại xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Năm 2021, chị Lê Thị Hồng Sáng vào tỉnh Bình Dương làm công nhân. Sắp tới, Chị Sáng chuẩn bị kết hôn với anh Dũng cùng làm việc tại tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, do công việc không thế xin nghỉ được để về quê xin Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nên chị Sáng muốn uỷ quyền cho mẹ đẻ, hiện đang sinh sống tại tại xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, đến Uỷ ban nhân dân xã Văn Phương xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho chị. Vậy chị Sáng có được ủy quyền cho mẹ đẻ đi xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho chị  không?

Trả lời:

          Theo quy định tại  khoản 1, Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định như sau:

          “Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch (sau đây gọi là yêu cầu đăng ký hộ tịch) được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay; trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện, nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.

           Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải chứng thực”. 

          Do vậy, chị Sáng có thể ủy quyền cho mẹ đẻ của chị  đến UBND xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho chị.

Câu 2. Trước đây anh Lộc và gia đình sinh sống ngoài Bắc. Anh Lộc được gia định đăng ký khai sinh tại UBND xã Yên Thái ở ngoài Bắc, nhưng do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên anh Huy theo gia đình vào Nam làm ăn, sinh sống đến nay anh Lộc và gia đình có hộ khẩu thường trú ổn định trong Nam (tại xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai). Năm 2023, anh Lộc đi làm công ty họ yêu cầu nộp giấy khai sinh lúc đó anh Lộc mới biết là giấy khai sinh của mình không còn. Anh Lộc đến UBND xã Long Phước nơi mình sinh sống trong Nam yêu cầu đăng ký lại khai sinh thì được công chức Tư pháp - Hộ tịch trả lời phải về nơi đã đăng ký khai sinh trước đây (ngoài Bắc) thực hiện việc đăng ký lại khai sinh cho anh.

          Vậy công chức Tư pháp - Hộ tịch trả lời như vậy có đúng không? Khi đi đăng ký lại khai sinh cần phải có giấy tờ gì?

Trả lời:

          Theo quy định tại khoản 1, Điều 25 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch như sau:

          Thẩm quyền đăng ký lại khai sinh, kết hôn: 1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn.”

          Và khi đi đăng ký lại khai sinh cần phải có các giấy tờ, tài liệu làm cơ sở để đăng ký lại khai sinh.

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định về hồ sơ khi đăng ký lại giấy khai sinh như sau: 

          “- Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;

           - Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó;

           - Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.”

          Tại Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

          “Giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP gồm:

          1. Bản sao Giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ.

          2. Bản chính hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay thế Giấy khai sinh được cấp trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam.

          3. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ sau đây là cơ sở để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh:

          a) Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;

          b) Giấy tờ chứng minh về nơi cư trú;

          c) Bằng tốt nghiệp, Giấy chứng nhận, Chứng chỉ, Học bạ, hồ sơ học tập do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận;

          d) Giấy tờ khác có thông tin về họ, tên, ngày, tháng, năm sinh của cá nhân.

          Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao các giấy tờ nêu trên (nếu có) và cam đoan về việc đã nộp đủ các giấy tờ mình có; chịu trách nhiệm, hệ quả của việc cam đoan không đúng sự thật theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.

          4. Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh

          Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan.”

          Như vậy, theo các quy định trên, công chức Tư pháp - Hộ tịch trả lời anh Lộc là không đúng với quy định. Anh Lộc có thể thực hiện việc đăng ký lại tại UBND xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nơi anh Huy đang cư trú.

Câu 3. Chị Làn là công dân Việt Nam kết hôn với anh Lâm Minh Châu là công dân nước ngoài Trung Quốc (Đài Loan). Năm 2021, chị Làn sinh con tại Việt Nam, chị đi đăng ký khai sinh cho con nhưng chị không biết là đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan nào? Chị Làn muốn cho con lấy theo quốc tịch của bố có được không?

          Trả lời:

          Theo quy định tại Điều 35 của Luật Hộ tịch quy định: Thẩm quyền đăng ký khai sinh:

          “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em trong các trường hợp sau đây:

          1. Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam:

          a) Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch;

          b) Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

          c) Có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

          d) Có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch

          Khoản 1, Điều 36 của Luật Hộ tịch quy định.

           1. Người đi đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con.

          Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân.

          Vậy theo quy định trên thì chị Làn đến UBND huyện nơi mình cư trú thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp chị Làn và anh Lâm Minh Châu lựa chọn lấy quốc tịch của con theo quốc tịch của anh Lâm Minh Châu (Trung Quốc (Đài Loan)) thì anh chị phải có văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con và phải được cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc (Đài Loan) xác nhận.  

          Câu 4. Chị Hiền đi xuất khẩu lao động, trong thời gian làm việc tại Trung Quốc chị Hiền đã quen yêu anh Vương Minh là người Trung Quốc. Năm 2018, anh Vương Minh sang Việt Nam để làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị Hiền tại UBND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (nơi chị Hiền đang sinh sống). Tuy nhiên đến ngày nhận giấy chứng nhận kết hôn theo quy định anh Vương Minh không kịp sang Việt Nam để nhận giấy chứng nhận kết hôn. Vậy anh Vương Minh có được kéo dài thời gian nhận giấy chứng nhận kết hôn không và nếu được thì làm như thế nào?

          Trả lời:

          Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch: 

          “Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký.

          Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.

          Trong trường hợp anh Vương Minh không kịp sang Việt Nam nhận giấy chứng nhận kết hôn thì chị Hiền làm văn bản đề nghị gia hạn thời gian nhận giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian gia hạn nhận giấy chứng nhận kết hôn tối đa là 60 ngày. Qua thời hạn này mà chị Hiền, anh Vương Minh không đến nhận giấy chứng nhận kết hôn thì giấy chứng nhận kết hôn sẽ bị hủy.

Câu 5. Năm 2003 anh Huy kết hôn với chị Thư sinh được 01 ngừời con gái tên là Bình Nguyên. Anh Huy (dân tộc Tày) và chị Thư (dân tộc Kinh) khi đi đăng ký khai sinh cho con hai vợ chồng đã thống nhất lấy dân tộc cho con là dân tộc Tày theo dân tộc của bố. Đến năm 2020, trong lần Anh Huy ăn uống cùng với bạn, đã bị các chế giễu là vì con là người dân tộc, do đó anh Huy về nhà yêu cầu chị Thư (vợ) ra UBND xã làm thủ tục đổi lại dân tộc cho sang dân tộc Kinh theo dân tộc của mẹ để tránh trường hợp cháu bị trêu đùa. Tuy nhiên, chị Thư và cháu Bình Nguyên không đồng ý. Vậy, theo quy định của pháp luật, anh Huy có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định lại dân tộc cho theo dân tộc của mẹ (chị Thư) không?  

          Trả lời:

          Theo quy định tại khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền xác định lại dân tộc như sau:

          “1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình".

          "3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:

          a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;

          b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình".

          "4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó".

          Như vậy, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau.

          Khoản 4 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó”.

          Trong tình huống này, cháu Bình Nguyên đã đủ 16 tuổi, do đó nếu không được sự đồng ý của con thì anh Huy không có quyền yêu cầu xác định lại dân tộc của con theo dân tộc của mẹ (chị Thư).

          Câu 6. Ông B đã chết cách đây 3 năm, có làm giấy chứng tử nhưng tên bị thiếu dấu. Khi các con tiến hành khai nhận di sản thừa kế thì phát hiện tên của cha không đúng với Giấy khai sinh, căn cước công dân và các giấy tờ khác. Giờ con của ông B xin cấp lại giấy chứng tử cho cha với thông tin đúng trên giấy tờ được không?     

          Trả lời:

          Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch có quy định về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử như sau:

          “1. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.”

          Trường hợp giấy chứng tử bản chính của ông B vẫn còn và trong sổ đăng ký khai tử lưu trữ tại UBND xã vẫn có thông tin của ông B thì không thể đăng ký lại khai tử mà chỉ có thể thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch.

          Theo Điều 17 Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch có quy định như sau:

          1. Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.

          2. Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.

          3. Việc cải chính nội dung đăng ký khai tử thuộc thẩm quyền của cơ quan đã đăng ký khai tử, theo đề nghị của người có trách nhiệm đăng ký khai tử quy định tại Điều 33 Luật Hộ tịch.”

          Do đó, nếu có cơ sở chứng minh việc đăng ký khai tử của ông B có sai sót thì con của ông B có thể thực hiện thủ tục cải chính thông tin trên giấy chứng tử tại UBND xã, nơi đã tiến hành đăng ký khai tử cho cha ông B.

Câu 7. Anh Đức và chị Hạnh đủ tuổi kết hôn và đáp ứng các điều kiện kết hôn, anh Đức và chị Hạnh dự định đi đăng ký kết hôn trước khi tổ chức lễ cưới 01 tháng. Anh Đức và chị Hạnh có hộ khẩu thường trú ở hai tỉnh khác nhau, anh chị không biết việc đăng ký kết hôn thực hiện tại cơ quan nào và thủ tục đăng ký kết hôn như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014 thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.

Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 18 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:

“1. Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.

2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.”

Như vậy, pháp luật không quy định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn là nơi bên nam hay bên nữ cư trú, mà tùy thuộc vào lựa chọn của người đi đăng ký kết hôn. Anh Đức và chị Hạnh có quyền lựa chọn và thống nhất Ủy ban nhân dân cấp xã nơi anh hoặc nơi chị cư trú để đăng ký kết hôn.

Câu 8. Anh Mạnh đã có vợ là chị Liên nhưng anh Mạnh có một con riêng với chị Hà, anh Mạnh muốn làm thủ tục đăng ký nhận cha con với cháu bé, tuy nhiên do sợ chị Liên biết chuyện nên anh Mạnh dự tính ủy quyền để chị thực hiện thủ tục nhận cha con. Vậy anh Mạnh không trực tiếp đến để thực hiện thủ tục nhận cha con có được hay không?

          Trả lời:

          Khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:

          “Trường hợp kết hôn, nhận cha, mẹ, con thì các bên phải trực tiếp thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch.

          Đối với các việc đăng ký hộ tịch khác hoặc cấp bản sao trích lục hộ tịch thì người có yêu cầu trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết việc ủy quyền

          Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch quy định:

          “Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch (sau đây gọi là yêu cầu đăng ký hộ tịch) được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay; trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện, nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại”.

          Theo quy định trên, anh Mạnh phải trực tiếp thực hiện thủ tục nhận cha, con tại cơ quan đăng ký hộ tịch và không được ủy quyền cho chị Hà thực hiện.

          Câu 9. Ông A và bà B đăng ký kết hôn năm 1990, nay con của ông A và bà B cần bổ sung giấy đăng ký kết hôn của ông, bà vào hồ sơ để đi nước ngoài. Khi ông A tìm đến Giấy chứng nhận kết hôn mới biết là đã bị mất, bà B cũng đã mất được một năm. ÔngA  đến UBND xã xin cấp trích lục kết hôn bản sao, tuy nhiên UBND xã không còn lưu giữ sổ đăng ký kết hôn năm 1990. Vậy ông A có xin đăng ký lại kết hôn được hay không?

          Trả lời:

          Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về điều kiệnđăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử: “Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ”.

          Theo quy định trên trường hợp của ông A, vì bà B đã mất nên ông B không thể thực hiện việc đăng ký lại kết hôn.

Câu 10. Chị M chưa đăng ký kết hôn với ai nhưng chị có thai dự kiến đến 8/2025 chị sinh con. Chị M băn khoăn không biết việc đăng ký khai sinh cho con của mình được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

          Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ như sau:

          “1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

          2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

          3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

          Chị M chưa đăng ký kết hôn với ai, con của chị M thuộc trường hợp chưa xác định được cha. Khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ được để trống.

Câu 11. Ông Nguyễn Văn P đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Cao Sơn, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Tháng trước, ông Nguyễn Văn P bị bệnh, được đưa vào chữa trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai (thuộc phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) và qua đời tại đây. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai đã cấp giấy báo tử cho ông Nguyễn Văn P. Gia đình ông Nguyễn Văn P đang băn khoăn không biết phải đăng ký khai tử cho ông P tại xã Cao Sơn nơi ông Nguyễn Văn P cư trú hay tại phường Bình Minh  nơi ông Nguyễn Văn P qua đời? Gia đình ông P phải thực hiện thủ tục đăng ký khai tử sau bao nhiêu ngày kể từ khi ông P qua đời?

Trả lời:

Điều 32 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký khai tử như sau:

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Về thời hạn đăng ký khai tử, khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch quy định như sau: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật, gia đình ông P thực hiện đăng ký khai tử cho cha tại Ủy ban nhân dân nơi ông Nguyễn Văn P cư trú trước khi qua đời là (UBND xã Cao Sơn, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) và gia đình ông Nguyễn Văn P (Vợ hoặc con của ông P) thực hiện việc đăng ký khai tử cho ông P trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ông Nguyễn Văn P chết.

Câu 12. Vừa qua ở xã D nơi tôi sinh sống 01 trường hợp là người có quốc tịch Hàn Quốc chết tại địa phương. Vậy tôi muốn biết thẩm quyền đăng ký khai tử đối với trường hợp này được thực hiện tại cơ quan nào? Và thủ tục thực hiện đăng ký khai tử đối với người nước ngoài?

Trả lời:

          Tại Điều 51, Luật Hộ tịch năm 2015 quy định thẩm quyền đăng ký khai tử

          “1. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam.

          2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.”

          Như vậy thẩm quyền đăng ký khai tử cho người có yếu tố nước ngoài là Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người chết.

Thủ tục thực hiện đăng ký khai tử đối với người nước ngoài chết ở Việt Nam được quy định tại Điều 52 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:

          “1. Người đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

          2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi khai tử ký vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục hộ tịch cho người đi khai tử.

          Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 03 ngày làm việc.

          3. Sau khi đăng ký khai tử, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục hộ tịch cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước mà người chết là công dân”.

         

          Câu 13. Chị T trên đường đi chợ sớm thì phát hiện 01 trẻ sơ sinh khoảng 2 tháng tuổi được đặt trong thùng carton cạnh cổng chợ. Thấy cháu bé bị bỏ rơi tội nghiệp, lại không có ai đến nhận, chị T đã đưa cháu nhỏ về nhà nhưng chị T băn khoăn không biết xử lý vụ việc này như thế nào? Cháu bé có được đăng ký khai sinh không?

          Trả lời:

          Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch quy định như sau:

          "1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo.

          Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.

          Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập.

          Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

          2. Sau khi lập biên bản theo quy định tại Khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi.

          3. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

          Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

          Theo quy định trên thì chị T có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho UBND hoặc công an cấp xã nơi phát hiện ra trẻ. Sau khi lập biên bản, UBND cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho chị T hoặc tổ chức khác tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật đồng thời niêm yết, thông báo để tìm cha, mẹ của trẻ bị bỏ rơi.

          Hết thời hạn niêm yết 07 ngày mà không có thông tin về cha, mẹ của trẻ thì UBND thông báo cho chị T hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ làm thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện tương tự như đăng ký khai sinh thông thường. Họ, tên của trẻ bị bỏ rơi được xác định theo đề nghị của chị T hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ. Nếu không có giấy tờ xác định ngày, tháng năm sinh và nơi sinh thì xác định theo ngày, tháng, năm và nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong giấy khai sinh và sổ hộ tịch để trống.

          Câu 14. Anh Linh vì rất hâm mộ cầu thủ bóng đá người Argentina là Lionel Messi nên khi vợ sinh con trai anh đã quyết định đặt tên con mình theo tên cầu thủ này. Tuy nhiên khi đến UBND xã nơi cư trú để đăng ký khai sinh cho con, công chức Tư pháp - Hộ tịch xã đã từ chối đăng ký khai sinh cho con anh với tên đó vì lý do không đúng quy định pháp luật. Anh Linh băn khoăn không biết pháp luật quy định như nào về việc đặt tên cá nhân?

Trả lời:

          Tại khoản 1, Điều 6, Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch có quy định về nội dung đăng ký khai sinh như sau:

          "Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:

          1. Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng".

          Theo đó khoản 3, Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:

          " Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

          Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ."

          Căn cứ quy định này thì việc anh Linh muốn đặt tên cho con mình nhưng không phải bằng tiếng Việt là chưa đúng với quy định pháp luật.

III. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Câu 1. Tôi có đứa em chồng vừa mới học hết trung học phổ thông nhưng không muốn đi học tiếp mà dự định kết hôn, sau đó đi học nghề và tạo dựng sự nghiệp tại quê nhà. Đề nghị cho biết điều kiện đăng ký kết hôn?

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định điều kiện đăng ký kết hôn cụ thể như sau:

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Như vậy, nếu căn cứ đủ các quy định nêu trên thì em chồng chị được đăng ký kết hôn.  

Câu 2. Anh A và chị B do chưa đủ tuổi kết hôn nên chỉ làm đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng được gần 3 năm, vậy có được coi là hợp pháp không? Trước khi anh A đi nghĩa vụ quân sự thì anh A và chị B muốn đăng ký kết hôn. Đề nghị cho biết trường hợp này giải quyết như thế nào?

Trả lời: 

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Mặt khác, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Như vậy, đối chiếu các quy định trên với trường hợp của anh A và chị B, do 02 người không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp Luật Hôn nhân và gia đình nên quan hệ vợ chồng giữa hai người không có giá trị pháp lý mặc dù cả hai đã làm đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng. 

Như vậy, căn cứ vào các quy định nếu anh A và chị B có mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng với nhau, 2 người có thể tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch ngay sau khi đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khi đó, quan hệ hôn nhân giữa hai người sẽ được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn. 

Câu 3. Chị H cư trú ở tỉnh Sóc Trăng và anh Đ cư trú ở tỉnh Hậu Giang kết hôn vào năm 2010 và sau đó sinh một người con trai. Trong thời gian chung sống, gia đình không hạnh phúc nên đã gửi đơn đến tòa xin ly hôn và được tòa giải quyết thuận tình ly hôn vào năm 2015. Tuy nhiên, 02 năm gần đây chị H và anh Đ nối lại tình cảm, quay về chung sống với nhau như vợ chồng. Chị muốn biết vợ chồng chị có phải đăng ký kết hôn lại không?

Trả lời: 

Theo quy định tại khoản 2, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn”.

Như vậy, vợ chồng chị muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn theo quy định.

Câu 4. Anh hai của tôi kết hôn với chị ba của bạn tôi nhưng sau đó bị Tòa án nhân dân huyện A tuyên hủy hôn do kết hôn trái pháp luật. Tôi muốn biết, pháp luật quy định như thế nào về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn trái pháp luật? 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật:

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

Câu 5. Chồng em là người lao động nước ngoài, vẫn đang sử dụng thẻ tạm trú lao động. Sắp tới nghỉ việc mà vẫn tiếp tục ở lại Việt Nam. Hiện tại em và chồng đã đăng ký kết hôn được hơn 5 tháng và em đang đứng tên căn hộ chung cư. Vậy em có được bảo lãnh cho chồng em đăng ký cấp thẻ thường trú không?

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 39 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 quy định về các trường hợp được xét cho thường trú như sau: 

1. Người nước ngoài có công lao, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được nhà nước Việt Nam tặng huân chương hoặc danh hiệu vinh dự nhà nước. 

2. Người nước ngoài là nhà khoa học, chuyên gia đang tạm trú tại Việt Nam. 

3. Người nước ngoài được cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam bảo lãnh. 

4. Người không quốc tịch đã tạm trú liên tục tại Việt Nam từ năm 2000 trở về trước. 

Như vậy, căn cứ quy định trên thì anh chị đã kết hôn và chị là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam nên chị có thể bảo bãnh cho chồng để làm thẻ thường trú. Tuy nhiên, bên cạnh đó cần phải đáp ứng điều kiện đã tạm trú tại Việt Nam liên tục từ 03 năm trở lên (Điều 40 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014).  

Câu 6. Vào ngày cưới bố mẹ tôi có cho tôi một căn nhà làm của hồi môn. Nay khi tôi nộp đơn xin ly hôn, chồng tôi nhất quyết đòi chia đôi giá trị căn nhà vì chồng tôi cho rằng đây là tài sản chung của hai vợ chồng. Vậy xin hỏi của hồi môn của tôi có bị chia khi ly hôn hay không? Tôi phải làm sao để chứng minh với tòa án đây là tài sản riêng của tôi?

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Như vậy căn cứ quy định của pháp luật thì trường hợp bố mẹ bạn cho bạn một căn nhà làm của hồi môn thì đây là tài sản riêng của bạn, nếu bạn không thực hiện việc sáp nhập tài sản riêng thành tài sản chung của hai vợ chồng bằng văn bản được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì đây vẫn được xem là tài sản riêng của bạn. 

Câu 7.  Trước khi kết hôn, chồng chị T được bố mẹ cho một căn nhà ở Hậu Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T chung sống tại căn nhà này. Khi bố mẹ chồng mất, chị T không biết căn nhà này có thuộc tài sản chung của vợ chồng chị không? Nếu không thì làm sao trở thành tài sản chung của 2 vợ chồng. Và thủ tục cần những giấy tờ gì? 

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì: Tài sản riêng của vợ, chồng: 

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. 

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Theo đó, để tài sản này trở thành tài sản chung thì vợ chồng bạn phải tiến hành thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung, căn cứ theo quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung 

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng. 

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó. 

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Câu 8. Anh A và chị B đồng nghiệp của tôi đang xảy ra mâu thuẫn rất nghiêm trọng, nguy cơ cao dẫn đến ly hôn. Nguyên nhân là anh chồng cặp bồ, có con riêng với người khác (cô này chưa có chồng và trước kia là giúp việc của gia đình anh chị). Đề nghị cho biết, nếu chị B tố cáo anh A quan hệ bất chính với người phụ nữ kia có thể bị xử lý hình sự hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, một trong những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật này là “người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Việc anh đồng nghiệp của bạn đang có vợ mà sinh sống và có con với người khác, đồng nghĩa cả hai người này đã vi phạm điều cấm và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Cụ thể:

Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

“a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn”.

Anh chồng sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng vì đang có vợ mà chung sống như vợ chồng với người khác. Người phụ nữ có con với anh ta cũng bị phạt mức tiền tương tự vì chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người biết rõ là đang có vợ.

Thậm chí, nếu tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra lớn, họ còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, được quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau: 

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.

Câu 9. Anh D và chị C ở cùng xã chưa đến tuổi kết hôn nhưng vì quá yêu nhau nên quyết định tổ chức đám cưới và được sự đồng ý của 2 gia đình. Trường hợp này xử lý như thế nào khi bị phát tảo hôn, tổ chức tảo hôn?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 58 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.

Như vậy, về hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn bị xử phạt vi phạm hành chính trong 2 trường hợp:

- Tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn;

- Hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.

Như vậy, chỉ có thể bị xử phạt về hành vi tảo hôn khi Toà án có thẩm quyền đã ra quyết định buộc bên tảo hôn phải chấm dứt quan hệ vợ chồng với người chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn cố ý tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật.

Trong trường hợp này, UBND xã không xử phạt bên tảo hôn bằng hình thức cảnh cáo mà phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để các cơ quan, tổ chức đó yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Khi nào Toà án có quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà bên tảo hôn vẫn tiếp tục chung sống với nhau như vợ chồng thì lúc đó UBND xã mới đủ điều kiện để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tảo hôn.

Bên cạnh đó, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn thì hành vi tổ chức tảo hôn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 183 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm”. 

Câu 10. Ông bà B ở xã X có con trai tên là T đã 30 tuổi, bị bệnh đao bẩm sinh. Vì muốn lấy vợ cho con trai, bà B đã tìm cách vu cáo cho chị C là người giúp việc cho gia đình bà lấy trộm số tiền 1 cây vàng. Bà B đe dọa nếu chị C không muốn bị báo công an phường, không muốn bị đi tù thì phải lấy con trai bà, vừa được làm bà chủ, không phải làm người giúp việc lại có cuộc sống sung sướng. Vì nhận thức hạn chế, trình độ văn hóa thấp nên chị C đã đồng ý lấy con trai bà B. Hôn lễ chỉ tổ chức giữa hai gia đình mà không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại phường. Việc làm của bà B có vi phạm pháp luật không? Nếu có thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Hành vi cưỡng ép kết hôn bị cấm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 59  Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng về hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. 

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tại Điều 181 về tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện như sau: “Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, Bà B đã dùng thủ đoạn gian dối để vu cáo cho chị C là có hành vi trộm cắp tài sản, từ đó uy hiếp tinh thần chị C và đe dọa, buộc chị phải kết hôn với con trai mình. Hành vi của bà B là vi phạm pháp luật và tùy tính chất, mức độ vi phạm, bà B sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định trên.

Câu 11. Anh M và chị O học trung học cơ sở cùng nhau, anh M theo bố mẹ sang định cư tại Mỹ. Khi về thăm quê, anh M có gặp lại chị O, từ đó cả hai nối lại tình bạn. Sau một thời gian trao đổi, liên hệ với nhau qua điện thoại, mạng xã hội, chị O tỏ ý muốn sang định cư tại Mỹ và nhờ anh M giúp đỡ bằng cách đồng ý kết hôn với chị. Hai bên sẽ ly hôn sau khi chị O được nhập quốc tịch Mỹ. Trường hợp kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh và nhập quốc tịch nước ngoài này pháp luật có nghiêm cấm không và nếu anh M và chị O vẫn thực hiện thì xử lý như thế nào ?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình là kết hôn giả tạo. Hành vi kết hôn giả tạo là hành vi bị Luật Hôn nhân và gia đình nghiêm cấm tại điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi kết hôn giả tạo sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, người có hành vi lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh; nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Như vậy, thỏa thuận giữa chị O và anh M là hành vi vi phạm pháp luật, bị coi là kết hôn giả tạo.

IV. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Câu 1. Qua đọc báo chí, tôi thấy hiện nay có thông tin cứ 03 phụ nữ thì có gần 01 người (chiếm tỷ lệ đến 32%) bị chồng bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục. Trong đó, có nhiều vụ bạo hành gia đình có mức độ nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, tinh vi và khó lường nên tôi muốn biết rõ hơn về hành vi bạo lực gia đình gồm những hành vi như thế nào?

Trả lời:

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã tiếp cận dựa trên quyền con người và lấy người bị bạo lực gia đình làm trung tâm, sửa đổi, bổ sung các hành vi bạo lực gia đình. Theo đó, tại Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, thì hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

b) Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

d) Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;

đ) Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;

e) Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

g) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

h) Tiết lộ hoặc phát tán thông tin thuộc đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

i) Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng;

k) Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực;

l) Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp;

m) Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi; 

n) Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình;

o) Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;

p) Cô lập, giam cầm thành viên gia đình;

q) Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.

Câu 2. Anh Nguyễn Văn T lấy chị H sinh được 3 người con gái liên tiếp. Mãi đến khi chị H hơn 40 tuổi mới sinh được một đứa con trai nên anh T rất yêu chiều đứa con trai út. Từ khi sinh được con trai, đối với 03 cô con gái, anh T thường xuyên bỏ mặc, không quan tâm mà còn thường xuyên nói là lũ vịt trời, “bé thì ăn hại, lớn thì bay đi”... rồi không chăm sóc, cho các con ăn học đầy đủ. Mặc cho vợ thường xuyên khuyên bảo hành vi của anh là vi phạm pháp luật, có yếu tố bạo lực gia đình. Ý kiến này đúng hay không?

Trả lời:

Hành vi của anh T là hành vi bạo lực gia đình về tinh thần vì theo điểm d và đ khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 có các hành vi bao gồm:

- Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;

- Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình.

Câu 3. Sau 05 năm lấy nhau, do anh P có tính trăng hoa, thường xuyên bồ bịch lại keo kiệt, bủn xỉn nên chị G làm đơn ly hôn. Mặc dù chị có mong muốn được nuôi cả 02 con song Tòa án lại xử anh P được nuôi con trai út. Song từ khi ly hôn được gần 01 năm nay, anh P cố tình ngăn cản không cho chị G đến thăm nuôi con, cũng như không nhận đồ chơi, quần áo chị mua gửi tặng cho con trai mình... Xin hỏi hành vi của anh P có vi phạm pháp luật hay không?

Trả lời:

Hành vi của anh P vi phạm điểm e và g khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã quy định rõ hành vi bạo lực gia đình gồm:

- Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

Câu 4. Xóm A nằm bên con sông đục ngầu của thành phố với dân cư thuộc nhiều tầng lớp, thành phần lao động khác nhau, trong đó có không ít lao động tự do. Gia đình anh K ở mãi tận cuối xóm thuộc hộ gia đình khó khăn bởi anh làm nghề tự do, chị vợ ở nhà trông 3 con nheo nhóc. Mỗi tối uống rượu say, anh K thường xuyên mắng chửi con cái thậm chí có hành động vũ phu đánh vợ con... Bà H là hàng xóm gần nhà thường xuyên giúp đỡ, tâm sự và hỗ trợ chị vợ anh K. Biết chuyện, Anh K có hành vi đe dọa, thậm chí còn có lần suýt đánh bà H. Xin hỏi hành vi của anh K đối với bà H có thuộc hành vi bị nghiêm cấm theo luật hay không?

Trả lời:

Hành vi của anh K đã vi phạm khoản 4 và 5 Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 về các hành vi bị nghiêm cấm gồm:

- Trả thù, đe dọa trả thù người giúp đỡ người bị bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, tố giác, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.

- Cản trở việc phát hiện, báo tin, tố giác, ngăn chặn và xử lý hành vi bạo lực gia đình.

Câu 5. Cơ quan tôi phát động mọi người tích cực tham gia cuộc thi trực tuyến sáng tác các tiểu phẩm/câu chuyện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Để tạo khí thế, phấn khởi động việc mọi người nên giải nhất cuộc thi trị giá rất cao. Xin hỏi việc tổ chức cuộc thi nêu trên có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Việc tổ chức sáng tác văn học, nghệ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng, chống bạo lực gia đình là một trong những chủ trương, chính sách của nhà nước về công tác này đã được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 6 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể:

- Khuyến khích sáng tác văn học, nghệ thuật về phòng, chống bạo lực gia đình; ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin trong phòng, chống bạo lực gia đình.

- Biểu dương, khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phòng, chống bạo lực gia đình; có chế độ hỗ trợ để bù đắp tổn hại về sức khỏe, tính mạng và thiệt hại về tài sản cho cá nhân tham gia phòng, chống bạo lực gia đình.

Câu 6. Sau khi ra trường, Phạm Thị H xin vào làm tại công ty X. Với bằng cấp giỏi, trình độ chuyên môn tốt, lại thêm vẻ ngoài xinh xắn nên H nhanh chóng được thăng chức Trợ lý cho Giám đốc L. Sau đó, giữa hai người phát sinh tình cảm nên dọn về chung sống với nhau và đăng ký kết hôn song không tổ chức đám cưới. Tuy nhiên, sau một thời gian nhận thấy L là người trăng hoa, lại vũ phu, nên H đã chủ động xin nghỉ việc, cắt đứt tình cảm với L. Tuy nhiên, L không buông tha H mà thường xuyên đe dọa uy hiếp, chặn đường chửi bới, thậm chí có lần có hành động vũ phu với H. Xin hỏi trong trường hợp này, H phải làm gì?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 thì người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin liên quan đến hành vi bạo lực gia đình khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Như vậy trong trường hợp này H là nạn nhân của bạo lực gia đình có thể nhờ sự giúp đỡ của người khác tố cáo hành vi bạo lực gia đình hoặc trực tiếp tố cáo hành vi bạo lực gia đình cho cơ quan có thẩm quyền.

Câu 7. Bà D là người giám hộ theo pháp luật chăm sóc em G là cháu ruột của mình sau khi bố G mất, mẹ đi lấy chồng khác. Tuy G mới 10 tuổi, song bà D bắt G nghỉ học. Hàng ngày, G phải dậy từ 4h sáng phụ giúp nấu nướng và bưng bê quán phở của bà G. Rất nhiều lần, quán vắng khách khiến bà D bực bội và có hành vi chửi bới, thậm chí dùng đũa cán dài đánh em G, thậm chí dẫn đến bị thương nhẹ. Xin hỏi trong trường hợp này, bà D có được thực hiện quyền của người đại diện theo pháp luật hay không?

Trả lời:

Hành vi của bà G là hành vi bạo lực gia đình vì bà đã lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm em G và bắt em lao động quá sức. Trong trường hợp này, bà G không được thực hiện quyền của người giám hộ cho em G trong vụ việc này. Theo khoản 2 Điều 10 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 thì người có hành vi bạo lực gia đình là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình thì không được thực hiện quyền của người giám hộ, người đại diện theo pháp luật quy định đối với vụ việc bạo lực gia đình do mình thực hiện.

Câu 8. Biết con trai thường xuyên mắng chửi , thậm chí nhiều lần còn đánh đập vợ con khi vợ sau khi sinh con do sức khỏe yếu không đi làm, nhưng bà H là mẹ chồng lại giữ thái độ im lặng, không có ý kiến gì. Thậm chí, có lần trong bữa cơm gia đình, do trái ý kiến chồng mà cô con dâu còn bị chồng bê cả mâm cơm ném vào đầu. Bà P là hàng xóm đã khuyên bà H phải nhắc nhở con trai mình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và phải đứng ra hòa giải các mâu thuẫn, vì đây là trách nhiệm của cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình. Xin hỏi, ý kiến của bà P có chính xác hay không?

Trả lời:

Ý kiến của bà P là chính xác vì theo Điều 11 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 về trách nhiệm của thành viên gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình gồm:

- Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt ngay hành vi bạo lực; tham gia chăm sóc người bị bạo lực gia đình.

Như vậy, bà P phải có trách nhiệm can ngăn con trai mình đối xử tệ bạc với vợ và hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra trong gia đình.

Câu 9. Biết nhà hàng xóm người vợ thường xuyên bị chồng đánh, nên chị A hay giúp đỡ, bảo vệ và hỗ trợ chị vợ khi họ cần. Chồng chị A không hài lòng về việc làm của vợ, cho rằng vợ bao đồng, tự dưng “dây dưa” vào việc không phải của mình. Xin hỏi ý kiến của chồng chị A đúng hay sai?

Trả lời:

Ý kiến của chồng chị A là sai vì theo quy định của Luật Phòng, chống gia đình năm 2022, cá nhân khi phát hiện hành vi bạo lực gia đình có trách nhiệm sau đây:

a) Báo tin, tố giác ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quy định;

b) Tham gia bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình và các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng.

Câu 10. Mỗi khi tôi đi làm về muộn, chồng tôi hay bực bội, ghen tuông vô cớ, gây sự mắng chửi, đánh đập tôi thậm tệ. Những khi đó, chị gái chồng tôi có khuyên can, dàn hòa thì chồng tôi quát: “việc vợ em để em dạy, chị đừng can thiệp”. Xin hỏi, chồng tôi nói vậy có đúng không? Hòa giải mâu thuẫn tranh chấp do gia đình, dòng họ tiến hành được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Việc chị chồng bạn can thiệp, khuyên giải chồng bạn là đúng, còn hành vi “ghen tuông” vô cớ mà chồng bạn đánh bạn là sai, thậm chí còn vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

Theo khoản 1 Điều 18 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì, thành viên gia đình, dòng họ có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp nhằm phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình phát sinh hoặc tái diễn.

Trong trường hợp cần thiết có thể mời chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư, người thân, người trong cơ quan, tổ chức của chủ thể có mâu thuẫn, tranh chấp và người được đào tạo hoặc có kinh nghiệm về công tác xã hội, tâm lý, người có kinh nghiệm trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình tham gia hòa giải.

Câu 11. Tôi hiện là Chủ tịch công đoàn cơ quan. Vừa qua, chị A - vợ anh B (nhân viên văn phòng của cơ quan) đến đề nghị hoà giải mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị. Vậy, xin hỏi cơ quan có trách nhiệm hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa vợ chồng chị A, anh B không? Thẩm quyền tiến hành hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp này được quy định như thế nào?

Trả lời:

Tại khoản 2, 3 Điều 18 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về chủ thể tiến hành hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp như sau:

Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa người thuộc cơ quan, tổ chức đó với thành viên gia đình của họ khi có đề nghị của thành viên gia đình; trường hợp cần thiết thì phối hợp với cơ quan, tổ chức ở địa phương để hòa giải.

Tổ hòa giải ở cơ sở có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp và vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở.

Theo đó, trường hơp chị A đến cơ quan ông/ bà đề nghị hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa vợ chồng anh chị (anh B là người thuộc cơ quan) thì cơ quan ông/ bà có trách nhiệm tiến hành hoà giải.

Câu 12. Tuy là con nhưng A không những không báo hiếu được công lao của cha mẹ mà còn thường xuyên bỏ mặc không chăm sóc cha mẹ già yếu khiến bà con hàng xóm rất bức xúc và bất bình. Xin hỏi, pháp luật quy định xử phạt như thế nào đối với người có hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình?

Trả lời:

Điều 53 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định việc xử phạt đối với hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình như sau:

a. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

- Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người cao tuổi, yếu, khuyết tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ.

b. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.

Câu 13. Theo quyết định ly hôn của Tòa án thì chị B có quyền nuôi con là cháu H, còn anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu H mỗi tháng một lần. Thời gian đầu, anh A thực hiện nghĩa vụ rất nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, ba tháng lại đây, anh A không chịu đưa tiền cấp dưỡng cho chị B. Khi chị B gọi điện, tìm gặp để nhận tiền cấp dưỡng nuôi con, thì anh A trốn tránh không gặp. Vậy xin hỏi, hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của anh A có vi phạm pháp luật không? Hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng được quy định như thế nào?

Trả lời:

Tại Điều 57 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật;

-Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, bị buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng theo quy định.

Theo đó, hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của anh A là hành vi vi phạm pháp luật và có thể sẽ bị xử phạt theo quy định trên.

Câu 14. Vì chị A không có tiền đưa cho con đi mua rượu nên B đã dùng gậy đuổi đánh chị A khiến chị phải vội ôm con chạy sang nhà hàng xóm để trốn tránh giữa đêm khuya. Hỏi hành vi của B có vi phạm pháp luật không? Việc xử phạt đối với hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ được quy định như thế nào?

Trả lời:

Chỉ vì chị A không có tiền đưa cho con đi mua rượu mà B đã dùng gậy đuổi đánh chị A là hành vi vi phạm pháp luật. Tại Điều 59 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa bằng bạo lực để buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ.

Câu 15. Khi thấy con trai có hành vi bạo lực gia đình đối với con dâu, bà A không những không can ngăn mà còn có những lời nói kích động khiến cô con dâu bà càng bị đánh đau hơn. Vậy xin hỏi, hành vi của bà A sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời:

Việc không căn ngăn con trai có hành vi bạo lực gia đình đối với con dâu và có những lời nói kích động khiến con dâu càng bị đánh đau hơn của bà A là vi phạm pháp luật. Hành vi của bà A sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP; cụ thể như sau:

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cưỡng bức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.

Câu 16. Nhân viên tư vấn A đã có hành vi tiết lộ thông tin cá nhân của nạn nhân bạo lực gia đình là chị B làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của chị. Hỏi, hành vi của nhân viên tư vấn A sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời:

Việc xử phạt đối với nhân viên tư vấn A được căn cứ vào quy định tại Điều 64 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP về vi phạm quy định về tiết lộ thông tin về nạn nhân bạo lực gia đình. Cụ thể Điều luật này quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với nhân viên y tế, nhân viên tư vấn trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình có một trong những hành vi sau đây:

- Tiết lộ thông tin cá nhân của nạn nhân bạo lực gia đình mà không được sự đồng ý của nạn nhân hoặc người giám hộ của nạn nhân làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân.

- Cố ý tiết lộ hoặc tạo điều kiện cho người có hành vi bạo lực biết nơi tạm lánh của nạn nhân bạo lực gia đình.

Câu 17. Gần nhà tôi có một gia đình thường xuyên cãi cọ, người chồng luôn dùng những lời thô tục để chửi vợ và mỗi lần như vậy người chồng đều hung hăng đánh cô vợ và đuổi cô vợ ra khỏi nhà. Tôi rất muốn báo chính quyền để có biện pháp giáo dục, răn đe người chồng nhưng chưa biết làm như thế nào. Đề nghị cho biết theo quy định của pháp luật thì tôi có thể báo tin hoặc tố giác về bạo lực gia đình ở đâu và bằng hình thức nào?

Trả lời:

Điều 19 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định địa chỉ tiếp nhận tin báo, tố giác về hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

(i) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình;

(ii) Cơ quan Công an, Đồn Biên phòng gần nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình;

(iii) Cơ sở giáo dục nơi người bị bạo lực gia đình là người học;

(iv) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận ở khu dân cư nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình;

(v) Người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình;

(vi) Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình.

Việc báo tin, tố giác về hành vi bạo lực gia đình đến địa chỉ trên thực hiện theo các hình thức như: Gọi điện, nhắn tin; Gửi đơn, thư; Trực tiếp báo tin.

Như vậy, trường hợp anh/chị phát hiện, chứng kiến hành vi bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực với các hình thức như trên.